Tổng quan
Bộ máy tổ chức
Kinh tế - Xã hội
Tin tức - Sự kiện
Hệ thống văn bản
ISO 9001:2008 UBND Huyện
Tải tài liệu
LIÊN KẾT WEB
Thống kê truy cập
Hôm nay: 251
Hôm qua: 260
Tuần này: 511
Tuần trước: 2,096
Tháng này: 43,414
Tháng trước: 38,713
Tổng lượt truy cập: 447,823
Số người online: 81
 
Kinh tế - Xã hội >> Thực trạng phát triển KT-XH đến 2010
(Đăng lúc: 19/09/2014 07:33:32 AM)
Thực trạng phát triển KT-XH đến 2010

Về tăng trưởng kinh tế

Kinh tế huyện Minh Long giai đoạn 2001 - 2010 có sự tăng trưởng khá. Tổng giá trị sản xuất năm 2000 đạt 23.411,2 triệu đồng, đến năm 2006 tăng lên 43.560,0 triệu đồng, năm 2008 là 67.397,7 triệu đồng, năm 2010 ước đạt 92.977 triệu đồng (theo giá cố định 1994). Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2001 - 2010 đạt 14,0%/năm, giai đoạn 2006-2010 đạt 14,37%/năm . Các ngành kinh tế của huyện đều đạt sự tăng trưởng liên tục, trong đó: 

- Giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thuỷ sản năm 2000 đạt 14.498,9 triệu đồng, đến năm 2009 đạt 34.534 triệu đồng, ước đến năm 2010 đạt 37.765 triệu đồng tăng bình quân giai đoạn 2001 – 2010 là 10%/năm, giai đoạn 2006-2010 là 10,8%/năm.

Năm 2009, tình hình kinh tế vĩ mô có nhiều bất lợi, thị trường xuất khẩu, lao động và việc làm gặp nhiều khó khăn. Tỉnh Quảng Ngãi không nằm ngoài xu thế chung đó, tuy nhiên các ngành và lĩnh vực trên địa bàn huyện cũng phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng khá. 

- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2000 đạt 3.819,1 triệu đồng, năm 2009 đạt 19.229 triệu đồng dự kiến đến năm 2010 đạt 23.461 triệu đồng tốc độ tăng bình quân 2001 - 2010 đạt 19,9%/năm.

- Giá trị sản xuất khu vực dịch vụ năm 2000 đạt 5093,2 triệu đồng, đến năm 2009 đạt 25,284 triệu đồng, dự kiến đến năm 2010 đạt 26.175 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2010 đạt 17,8%/năm.     

- GTSX  bình quân đầu người/năm năm 2006 đạt 3,0 triệu đồng, năm 2009 đạt 6,4 triệu đồng, dự kiến năm 2010 đạt 7,2 triệu đồng (giá hiện hành).

Nhìn chung, kinh tế huyện còn nhiều khó khăn, tỷ trọng đóng góp về giá trị sản xuất cho Tỉnh rất nhỏ, mức sống có xu hướng ngày càng thua thấp so với mức bình quân chung của Tỉnh. 

Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong giai đoạn 2000-2010, cơ cấu kinh tế của Huyện (tính theo GTSX) chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 16,31% năm 2000 lên 23,6 % vào năm 2008, 25,9% vào năm 2009 ước năm 2010 đạt 28,7%; tỷ trọng khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm dần từ 61,92% năm 2000 xuống còn 41,7% năm 2008, 40,2% năm 2009 và ước giảm còn 38,9% năm 2010, tỷ trọng khối dịch vụ tăng từ 21,8% năm 2000 lên 34,7% năm 2008, 33,8% năm 2009 và ước đạt 32,4% năm 2010. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng, phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tuy nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, nhất là khu vực công nghiệp - xây dựng có tỷ trọng tăng giảm không đều, xu thế chưa bền vững.

Phát triển các ngành và sản phẩm chủ lực

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản

Ngành nông, lâm, ngư nghiệp là ngành sản xuất chính của huyện Minh Long, thu hút trên 80% lực lượng lao động. Giai đoạn 2006-2010, mặc dù gặp một số khó khăn do thiên tai gây ra như úng lụt, ảnh hưởng trực tiếp của các cơn bão, dịch cúm gia cầm và dịch lở mồm long móng bùng phát, nhưng sản xuất nông, lâm, nghiệp và thuỷ sản vẫn có tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân đạt 10,85%/năm, Xét cả giai đoạn 2000- 2010 .tốc đô tăng trưởng ngành nông lâm thủy sản đat khoảng 10%

Ngành nông, lâm, ngư nghiệp từng bước đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ và chuyển dần sang sản xuất hàng hoá. Năng suất cây trồng vật nuôi có xu hướng tăng dần qua các năm. Từ năm 2000 đến nay, sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, lâm nghiệp có tỷ trọng tăng dần. Đến năm 2009, trong cơ cấu nội bộ ngành nông, lâm, thuỷ sản, hiện nay ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu (59,8%), lâm nghiệp chiếm 38,5%, thuỷ sản chiếm tỷ trọng rất nhỏ (1,7%), dự kiến năm 2010 cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp có xu hướng giảm nhẹ đạt 59,5%, lâm nghiệp tăng lên đạt 38,9%, thủy sản giảm còn 1,6%  Cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp đang chuyển đổi dần theo hướng sản xuất tập trung, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa. 

Nông nghiệp

Năm 2010 Minh Long dự kiến có 19.173,88 ha diện tích đất canh tác (chiếm 88,40% tổng diện tích tự nhiên), trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 2.858,54 ha (chiếm 13,18% diện tích đất canh tác), đến năm 2010 diện tích trồng cây hàng năm đã giảm so với năm 2008 do chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi  sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm và sử dụng làm đất nông nghiệp khác. Sự biến động giữa các loại đất canh tác năm 2010 không đáng kể. Mặc dù năng suất, sản lượng cây trồng có tăng so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm tăng thu nhập cho người dân, nhưng nhìn chung năng suất chất lượng của hầu hết các loại cây trồng, vật nuôi trong Huyện còn đạt thấp, hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao. Nhiều vùng còn chưa định hình được loại cây, con nuôi và mô hình sản xuất có hiệu quả.

Trong thời kỳ 2001-2010, nông nghiệp Minh Long có tốc độ tăng trưởng bình quân 6,93%/năm; thời ký 2006-2010 tốc độ là 7,77% trong đó trồng trọt có tốc độ tăng trưởng 7,91%/năm, chăn nuôi 7,26%/năm

Trồng trọt

Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ. Trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, đến năm 2010 dự kiến ngành trồng trọt sẽ tiếp tục giảm dần nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn (78,86%), ngành chăn nuôi chiếm 21,14%. 

) Cây lương thực:

- Tổng sản lượng lương thực năm 2010 đạt 5.946tấn, lương thực bình quân đầu người đã tăng từ 255,9kg/người/năm (năm 2000) lên 370kg/người/năm (năm 2009) và ước đạt 375kg/người/năm (năm 2010).

- Cây lúa: Lúa là cây chiếm diện tích lớn nhất trong ngành trồng trọt của huyện. Đến năm 2009, diện tích lúa của huyện giảm khoảng 108 ha so với năm 2000 do chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, cây ăn quả, trồng dâu tằm, cây công nghiệp và dự kiến đến năm 2010 diện tích lúa tiếp tục giảm thêm 5ha còn khoảng 1550 ha.

Tuy diện tích cấy lúa bị thu hẹp nhưng do mở rộng cấy các giống lúa ngắn ngày có năng suất, chất lượng gạo ngon làm hàng hóa, kết hợp với biện pháp thâm canh nên năng suất lúa không ngừng tăng lên. Năm 2009 năng suất lúa của huyện đạt 36,8tạ/ha, dự kiến năm 2010 đạt 38ha.

Mặc dù đạt kết quả như trên nhưng sản xuất lúa của huyện vẫn còn có nhiều khó khăn do đất đai nghèo dinh dưỡng, sự xói mòn lớn, khả năng lưu giữ mùn và phân trên ruộng lúa còn rất khó khăn. Một số xã vùng cao tỷ lệ số hộ bón phân cho lúa chỉ đạt 30% nên mặc dù đạt được năng suất lúa như trên song so với năng suất lúa bình quân của tỉnh thì còn rất thấp. Sản lượng mới đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho nhân dân trong Huyện, chưa có dự trữ gối vụ và chưa có hàng hoá xuất ra ngoài huyện. 

) Cây công nghiệp ngắn ngày:

- Cây ngô: Cây ngô được trồng phổ biến trên đất màu và đất bãi ven sông suối. Cây ngô được duy trì và phát triển đều đặn, diện tích, năng suất và sản lượng đều tăng lên.

Năm 2008, trong nhóm cây công nghiệp ngắn ngày, cây mỳ cao sản được quan tâm đầu tư phát triển hơn cả và đã mang lại thu nhập khá cho người dân và đến năm 2010 trong kế hoạch đề ra tiếp tục là cây thế mạnh của huyện.
Về diện tích: So sánh năm 2000 với  kế hoạch năm 2010 thì diện tích cây mía đã giảm mạnh (11 ha); diện tích mỳ cao sản tăng mạnh (900 ha), đứng thứ 2 về quy mô diện tích, chỉ sau cây lúa; diện tích cây lạc tăng nhẹ(20,5 ha).
Năm 2010 năng suất trung bình của các loại cây CNNN đã tăng từ 1,2-1,7 lần so với năm 2000 do thay đổi kỹ thuật canh tác.

) Cây công nghiệp lâu năm:

Thời kỳ 2000-2003, huyện có duy trì trồng cây điều (70 ha), hồ tiêu (0,5 ha) và cà phê (20 ha), song các cây này không phát triển được, hiệu quả kinh tế không cao nên đến nay Huyện đã không tiếp tục trồng các loại cây này.

Cây chè (chè búp và chè lá) là loại cây được duy trì và có truyền thống phát triển tốt từ nhiều năm nay và đã tạo ra sản phẩm hàng hóa thường xuyên và là thu nhập chính của đa số người dân Minh Long. Giống chè của Minh Long chủ yếu là chè Tuyết (chè Shan) có chất lượng tốt, hương vị thơm ngon. Với đặc điểm của vùng núi cao, cây chè có thể phát triển tốt mà không cần bón phân và thuốc trừ sâu nên có thể tạo ra sản phẩm chè búp sạch đặc sản đáp ứng nhu cầu trong nứớc và xuất khẩu. Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm chè vẫn chủ yếu là chè lá, chè cành do tập quá canh tác của người dân chưa quen thu hái, chăm sóc chè búp và các xưởng chế biến chè búp còn rất ít. Vì vậy, trong thời gian tới cần tiếp tục tập trung duy trì và phát triển cây chè theo hướng sơ chế chè búp tươi thành hàng hoá để tăng giá trị sản phẩm, tăng thu nhập cho nhân dân.

Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm của Huyện đã giảm đáng kể từ 270,5 ha năm 2000 xuống chỉ còn 76 ha vào năm 2009.

) Cây ăn quả: Diện tích cây ăn quả của huyện không đáng kể, sản lượng rất thấp và ít mang lại hiệu quả kinh tế.

) Các loại cây rau màu, thực phẩm và cây làm thức ăn gia súc:

Trong những năm qua, diện tích và các loại rau, khoai... của Minh Long đều giảm hoặc tăng giảm không ổn định. Minh Long có diện tích các loại cây rau đậu thấp nhất trong số các huyện, thành phố của tỉnh. Năm 2009, diện tích rau đậu các loại của huyện là 43,5 ha, gấp đôi so với năm 2000. Rau, đậu vẫn tăng đều về năng suất qua hàng năm.

Chăn nuôi

Huyện đã thực hiện chương trình cải tạo đàn gia súc theo hướng phát triển đàn bò lai sind, lấy thịt và lấy sữa; từng bước "nạc hoá" đàn lợn; đàn gia cầm siêu trứng, siêu thịt.

Huyện đã thực hiện mô hình cải tiến chăn nuôi trâu bò miền núi gồm 10 cây rơm, 10 chuồng, 10 hố ủ thức ăn và 1.000m2 cỏ.

Đến  năm 2009, đàn trâu đã tăng lên 4.527 con, đàn bò giảm chỉ còn 2.270 con, đàn lợn còn 3.483con, đàn gia cầm giảm từ 24,5 ngàn con năm 2000 xuống còn 22 ngàn con năm 2009, giảm bình quân giai đoạn 2001 - 2010 là 4,3%/năm do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm; đàn lợn cũng giảm mạnh do dịch lở mồm long móng, dịch lợn tai xanh bùng phát. Giá trị của ngành chăn nuôi năm 2009 đạt 12.442triệu đồng, chiếm 27,4% tổng giá trị ngành nông nghiệp (theo giá hiện hành).  

Dịch vụ

nông nghiệp

Ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ không đáng kể trong nội bộ ngành nông nghiệp tập trung vào một số công việc của sản xuất nông nghiệp như tưới tiêu, gieo hạt, dịch vụ bảo vệ thực vật...

Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp ở Minh Long những năm qua tập trung vào công tác trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Công tác quản lý bảo vệ rừng, quy hoạch và trồng rừng có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần tích cực giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân, hạn chế tình trạng phá rừng.

Đến năm 2010, Minh Long có diện tích rừng khá lớn so với các huyện khác trong tỉnh. Diện tích đất lâm nghiệp của Huyện hiện có là 13.250,31.ha, chiếm  61,24% diện tích tự nhiên. Trong đó đất rừng sản xuất là 4.453,71 ha, chiếm 33,61%; đất rừng phòng hộ 8.654,6 ha, chiếm 64,01% và đất rừng đặc dụng 142 ha, chiếm 2,38% diện tích đất lâm nghiệp. 
Rừng Minh Long hiện còn chủ yếu ở địa hình núi cao, độ dốc lớn trên 25 độ, điều kiện khai thác khó khăn và nằm trong vùng rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham. Diện tích đất trống đồi trọc vẫn còn rất lớn (5.222,51 ha) chiếm 24,14 % diện tích tự nhiên. Độ che phủ rừng năm 2009 đạt 50% và dự kiến đến năm 2010 độ che phủ rừng đạt 53%. Vốn rừng tự nhiên của Minh Long rất ít so với các huyện miền núi có rừng khác trong Tỉnh, rừng tự nhiên của Minh Long chủ yếu là rừng nghèo và rừng phục hồi (rừng non tái sinh). Khối lượng khai thác lâm sản hàng năm khoảng 350 - 600 m3 gỗ (chủ yếu là gỗ rừng trồng - trữ lượng cao hơn mức trung bình cả tỉnh), 15.000 - 17.000 ster củi, 250 - 260 tấn song mây, ngoài ra có các sản phẩm khác như tre, mật ong, bông đót cũng mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân.
Công tác trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng tái sinh rừng đạt nhiều kết quả. Năm 2009, Huyện trồng được khoảng 530ha rừng tập trung, bảo vệ rừng khoanh nuôi khoảng 2.100ha, dự kiến đến năm 2010 trồng mới khoảng 575ha và khoanh nuôi khoảng 2.279ha 
Phong trào trồng rừng phát triển mạnh mẽ đến tất cả các xã, cao nhất là xã Long Mai. Đến nay, nhiều hộ dân đã tự ươm được cây giống để giảm chi phí đầu tư, một số hộ đã lập vườn ươm cây giống với số lượng lớn để cung cấp cho thị trường. Huyện đã kết hợp các chương trình định canh định cư; xoá đói giảm nghèo để xây dựng các mô hình sử dụng đất lâm nghiệp theo quy trình tiên tiến; như tiến hành trồng rừng và phát rừng theo các đường đồng mức. Huyện đã chỉ đạo trồng hạn chế phát triển các loại cây chỉ thu lợi trước mắt nhanh nhưng làm nghèo dinh dưỡng đất rừng như bạch đàn để trồng các loại cây vừa thu lợi vừa bổ sung dinh dưỡng cho đất như keo lá tràm. Một số hộ đã có thu  nhập cao từ trồng keo.Tuy nhiên, việc trồng mới cũng chưa được đầu tư mạnh để tạo vùng nguyên liệu ổn định cho sản xuất.
Công tác thanh tra, kiểm tra các vụ vi phạm lâm luật và phòng cháy rừng ngày càng được tăng cường và có hiệu quả cao nên từng bước hạn chế tình trạng chặt phá, đốt cháy rừng. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc hạn chế được nạn đốt rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ trái phép, song công tác bảo vệ rừng ở Minh Long đang gặp không ít khó khăn. Tình trạng chặt phá rừng trái phép và đốt rừng vẫn còn diễn ra.
Nhìn chung, những năm gần đây ngành lâm nghiệp đã có bước đi đúng hướng. Tuy nhiên vẫn phát triển còn chậm, hiệu quả thấp, đóng góp cho ngân sách còn ít và chưa tương xứng với tiềm năng. Hệ thống giao thông phục vụ công tác lâm sinh còn quá kém. Công tác quy hoạch đất đai, phân định giữa đất nông nghiệp và lâm nghiệp chưa được làm rõ; công tác giao đất khoán rừng cho hộ tham gia quản lý bảo vệ và sản xuất quá chậm; nhiều xã có rừng nhưng người dân chưa được hưởng lợi từ rừng, đây là vấn đề bức xúc gây nên tình trạng thiếu đất sản xuất trong dân cư và gần đây đã nảy sinh việc tranh chấp đất lâm nghiệp giữa hộ dân và các tổ chức kinh tế; việc lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng rừng nguyên liệu nhưng việc xử lý và ngăn chặn còn chậm.

Thuỷ sản

Tốc độ tăng trưởng ngành thuỷ sản huyện Minh Long thời kỳ 2001-2010 đạt bình quân 18,13%/năm (cao hơn mức bình quân chung toàn tỉnh 8,8%/năm). Riêng giai đoạn năm 2006-2010 tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao khoảng 25,2%.

GTSX ngành thuỷ sản đã tăng từ 75,6 triệu đồng năm 2001 lên 400 triệu đồng năm 2009 (giá cố định 1994). Mặc dù có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng đến nay ngành thuỷ sản vẫn chiếm tỷ lệ còn rất nhỏ trong cơ cấu nội bộ ngành nông lâm thuỷ sản chỉ đạt 1,7%.

Tổng sản lượng thủy sản tăng bình quân 16,37%/năm trong giai đoan 2001-2010 trong đó nuôi trồng thủy sản tăng nhanh đạt 43,8%/năm, giảm sản lượng đánh bắt trung bình 16%/năm.

Do điều kiện địa hình miền núi, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản ban đầu của huyện rất ít (chỉ có 7,88 ha), phân bố rải rác ở địa bàn các xã nên  rất khó khăn cho phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản.

Các đối tượng nuôi đại trà chủ yếu là cá trắm, tập trung nhiều ở các xã Thanh An, Long Mai, Long Sơn... Cùng với việc duy trì nuôi cá truyền thống, huyện Minh Long đã bước đầu đưa vào nuôi một số đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao.

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp-  xây dựng:

Trong giai đoạn 2000-2010, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Huyện mới bước đầu phát triển, chủ yếu là sản xuất tiểu công nghiệp, sản xuất còn manh mún, sơ khai. Tất cả các xã chưa hình thành các điểm công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung.

Tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng năm 2009 đạt  19,23 tỷ đồng năm 2010 dự kiến đạt 23,46 tỷ đồng (giá cố định 1994), tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 18,22%%, giai đoạn 2001-2010 đạt 24,9%.

Ngành công nghiệp:

Đến năm 2009, tính riêng giá trị sản xuất ngành công nghiệp Huyện vẫn còn rất nhỏ bé chỉ đạt 2,9 tỷ đồng chiếm 16% tổng giá trị sản xuất ngành công nghiêp- xây dựng, dự kiến đến năm 2010 giá trị ngành công nghiệp đạt 3,3tỷ đồng.

Về cơ cấu theo thành phần kinh tế, năm 2010 kinh tế nhà nước Huyện chiếm tỷ trọng 27,5% và kinh tế cá thể chiếm 72,5% giá trị sản xuất toàn ngành với 155 cơ sở sản xuất công nghiệp cá thể.

- Các nhóm ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Huyện Minh Long bao gồm các nhóm ngành: Công nghiệp chế biến (Chế biến chè búp, lương thực, thực phẩm, chế biến các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, kim loại; may mặc, sản xuất đồ da).

Ngành xây dựng:

Sản xuất và phân phối điện, nước: công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước.

Thương mại, dịch vụ

Giá trị sản xuất ngành xây dựng chiếm chủ yếu trong tổng giá trị sản xuất công nghiêp- xây dựng năm 2010 đạt 20,1tỷ đồng đạt tốc độ tăng 16,01%/năm giai đoạn 2006-2010.  Ngành xây dựng đã tập trung  chủ yếu vào hình thành hệ thống hạ tầng cơ bản, tập trung chủ yếu vào câc công trình thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân huyện như các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi, tu sửa và xây mới các công trình y tế, văn hóa, giáo dục…Công tác xây dựng đã được triển khai thực hiện đúng theo quy hoạch, các dự án tuân thủ theo quy định của nhà nước; sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của cấp trên và một số nguồn vốn ngoài ngân sách.

Thương mại

Với vị trí khá thuận lợi, khoảng cách từ trung tâm huyện Minh Long đến trung tâm các huyện lân cận tương đối gần, hệ thống giao thông từ trung tâm huyện đến các xã đã được cải tạo, nâng cấp; các Trung tâm cụm xã Long Môn, Long Sơn đã được xây dựng. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho huyện Minh Long giao lưu kinh tế, cung cấp hàng hoá đến các khu dân cư, phát triển dịch vụ - thương mại so với các huyện miền núi khác trong tỉnh và phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân ngày càng thuận lợi.

Giai đoạn 2001-2010, hoạt động kinh doanh thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện đã bắt đầu phát triển; mặc dù chưa thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia, số hộ kinh doanh cá thể tuy còn ít nhưng ngày càng tăng lên.

Năm 2001, toàn huyện có 135 cơ sở kinh doanh thương mại, đến năm 2009 tăng lên 376 cơ sở, tăng 241 cơ sở, trong đó chỉ có một cơ sở kinh tế nhà nước, còn lại tất cả đều là hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực này (các cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ tập trung chủ yếu ở xã Long Hiệp: 245 cơ sở).

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ trên địa bàn năm 2009 đạt 17.600 triệu đồng, bằng 3,3 lần so với năm 2000 (5.250 triệu đồng), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,6%/năm và chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với toàn tỉnh (chiếm khoảng 1,48%) và năm 2008 đạt 22,76 tỷ đồng. Nguồn hàng hoá của Huyện chuyển đi nơi khác chủ yếu là hàng nông lâm sản nhưng một số hàng hoá còn có giá trị chưa cao (ví dụ như chè cành, chè lá...). Hàng từ thành phố Quảng Ngãi lên Minh Long chủ yếu là hàng tiêu dùng thiết yếu như  đồ dùng gia đình, thực phẩm, thuốc, dầu hoả, giấy vở học sinh...

Đến năm 2009, Minh Long hiện có tổng số 02 chợ/5 xã; chợ Mới tại trung tâm Huyện đã đi vào hoạt động, ngoài ra còn xuất hiện một số tụ điểm buôn bán tự phát. Các chợ của huyện đều là chợ loại 3, quy mô nhỏ, cơ sở vật chất còn yếu; diện tích xây dựng nhỏ, chủ yếu là nhà cấp 4 và các lán trại tạm.

Minh Long hiện có 02 cửa hàng kinh doanh xăng dầu. Hệ thống cơ sở vật chất các cửa hàng xăng dầu đã từng bước được cải tạo, xây dựng theo tiêu chuẩn chuyên ngành, chất lượng phục vụ được nâng lên, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.

Du lịch

Đến nay, Huyện chưa có sản phẩm tham gia xuất khẩu mặc dù nguồn nguyên liệu để làm hàng xuất khẩu khá phong phú và đa dạng như sắn tươi, chè búp, đót, song mây, gỗ… Nguyên nhân là do sản xuất còn nhỏ lẻ, chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã của sản phẩm chưa đa dạng, khả năng cạnh tranh kém nên sản phẩm làm ra tiêu thụ chậm.

Hiện nay Huyện đang xúc tiến xây dựng khu du lịch Thác Trắng tại xã Thanh An và bước đầu đã thu hút được khách du lịch nội địa. Thác Trắng Minh Long là nơi có tiềm năng rất lớn để phát triển loại hình du lịch danh lam thắng cảnh. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng điểm du lịch trong huyện hiện còn rất thô sơ, chưa hấp dẫn và còn gây trở ngại cho việc du khách đến thăm quan.

Mặt khác, các cơ sở lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống, giải khát của Huyện chưa có; chưa đảm bảo nhu cầu ăn nghỉ cho du khách đến địa phương. Đến năm 2009, toàn huyện có 72 tiệm ăn uống, giải khát nhưng chủ yếu là quy mô nhỏ, chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh.

Các ngành dịch vụ khác

- Dịch vụ tài chính ngân hàng: Đến năm 2010, trên địa bàn huyện có 2 chi nhánh ngân hàng khu vực (Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Ngân hàng Chính sách xã hội), 2 quỹ tín dụng nhân dân ở các xã... Các ngân hàng đã cho vay đúng đối tượng, đúng định mức và hướng dẫn nhân dân sử dụng đúng mục đích.

Năm 2000 tổng thu ngân sách huyện đạt 5.450 triệu đồng, năm 2006 tăng lên 18.025,2 triệu đồng, đến năm 2009 đạt 59.336 triệu đồng. Tuy nhiên thu trợ cấp từ ngân sách cấp trên là 48.847 triệu đồng, thu ngân sách trên địa bàn chỉ đạt 1.760 triệu đồng, (chiếm 2,9% tổng thu ngân sách trong năm). Huyện đã tập trung khai thác các nguồn thu, chống thất thu góp phần đảm bảo cho nhiệm vụ chi thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển. Công tác quản lý tài chính được thực hiện theo đúng quy định của nhà nước và từng bước đi vào nề nếp, quản lý thu chi ngân sách chặt chẽ hơn.

- Dịch vụ bưu chính viễn thông năm 2009 đạt tổng doanh thu 195,4 triệu đồng, ngành luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên 20%/năm trong giai đoạn 2006-2010.

- Dịch vụ giao thông vận tải tiếp tục phát triển, đáp ứng một phần nhu cầu giao lưu giữa các khu vực trong huyện với Thành phố Quảng Ngãi và địa phương khác. Năm 2010, khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 10,5 nghìn tấn, tăng 3 lần so với năm 2001 (3,5 nghìn tấn). Về vận tải hành khách, khối lượng hành khách vận chuyển, luân chuyển đến nay đều do tỉnh thực hiện, việc trao đổi mua bán và nhu cầu đi lại của nhân dân đều phụ thuộc vào phương tiện vận tải từ thành phố Quảng Ngãi nên khá bị động và hạn chế giao lưu buôn bán của Huyện với bên ngoài, nhất là vào mùa mưa bão.

- Các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao... có sự chuyển biến tích cực, tập trung phục vụ tốt nhu cầu đời sống của nhân dân. Các dịch vụ sản xuất và tiêu dùng khác nhìn chung đã phát triển khá đa dạng. 

Phát triển các lĩnh vực xã hội

Giáo dục - đào tạo

Giáo dục Mầm non:

Cơ sở vật chất: Hiện nay toàn huyện có 1 trường mầm non với 2 nhóm trẻ; 2 trường mẫu giáo công lập và 4 tổ mẫu giáo phân bố đều trên địa bàn 5 xã với 40 lớp học (trong đó có 3 lớp mẫu giáo công lập). Cơ sở vật chất đã từng bước được tăng cường song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, tỷ lệ kiên cố hoá trường mầm non còn rất thấp, hầu hết là phòng học cấp 4. Hiện nay giáo dục Mẫu giáo của toàn huyện phân bố ở các xã: Long Mai 07 điểm trường; Long Hiệp 08 điểm trường; Long Môn 02 điểm trường, Long Sơn  11 điểm trườngvà xã Thanh An có 08 điểm trường.

Đội ngũ giáo viên:  đến nay mới có 41 người/38 lớp mẫu giáo, 04 giáo viên/ 2 nhóm trẻ, tỷ lệ đạt chuẩn là 100%. 

Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường năm 2009 còn thấp (666 cháu), nhà trẻ mới đạt 12,3%, mẫu giáo đạt 68%, trẻ 5 tuổi đến lớp đạt ở mức cao hơn (79,3% trẻ em trong độ tuổi). Dự kiến năm 2010 số trẻ huy động đến trường 840 cháu đạt 14%, mẫu giáo đạt 70%, trẻ 5 tuổi đến lớp đạt trên 80%.

Giáo dục phổ thông

- Giáo dục tiểu học: Đến năm 2009 toàn huyện có 6 trường tiểu học/5 xã, trong đó có một trường tiểu học kết hợp với trung học cơ sở (riêng địa bàn xã Long Mai có 2 trường tiểu học), tổng số 110 lớp học, một trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia (trường tiểu học Long Hiệp - xã Long Hiệp). Hiện nay 3 trường tiểu học đã được xây dựng kiên cố, cơ sở vật chất trang thiết bị trường học được tăng cường. Số phòng học được kiên cố hoá đạt 70%. Huyện còn 3 trường tiểu học vẫn là nhà cấp 4, các trường chưa có đủ sách giáo khoa, sách dạy 2 buổi, có phòng học bộ môn, chưa được trang bị máy vi tính và máy chiếu đa năng, cơ sở vật chất trang thiết bị trường học còn nghèo nàn, lạc hậu.

Số học sinh tiểu học năm 2009 huy động được 1447 em dự kiến đến năm 2010 huy động được 1529 em. Đã hoàn thành công tác phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, huy động trẻ 6 tuổi đã học qua mẫu giáo vào lớp 1 đạt 100% số em trong độ tuổi, tuyển mới học sinh vào lớp 1 (không học qua mẫu giáo) đạt 15,7%  dân số trong độ tuổi. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học bình quân hàng năm đạt 97- 100%.

Đến nay, giáo viên tiểu học của Huyện có 122 người/110 lớp học, 99% giáo viên tiểu học đạt chuẩn.

- Giáo dục trung học:

Khối THCS: Huyện có 04 trường trung học cơ sở (THCS Long Mai, Long Hiệp, Long Sơn và trường liên xã An Môn), phân bố ở địa bàn các xã: Long Mai 01 cơ sở, Long Hiệp 02 cơ sở, Thanh An 01 cơ sở, Long Sơn  01 cơ sở. với tổng số 38 lớp THCS. Số học sinh trung học cơ sở hiện có 1.038 em. Cấp học này cũng đã được phổ cập đúng độ tuổi từ năm 2002 với tỷ lệ trẻ 15 - 18 tuổi tốt nghiệp đạt 95,7%. Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm được xét đạt 98,3%. Đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở 5/5 xã.

Khối PTTH: có 01 trường với 10 lớp học, trong đó trường trung học phổ thông Minh Long mới được thành lập và bố trí đất xây dựng tại xã Long Mai. Tổng số học sinh PTTH năm 2009 là 337 em, năm 2010 dự kiến khoảng 400 em. Cơ sở vật chất các trường đều ở tình trạng bán kiên cố. Trường phổ thông dân tộc nội trú phân bố tại xã Long Hiệp.

Trung tâm giáo dục thường xuyên:

) Đánh giá chung ngành giáo dục - đào tạo huyện Minh Long:

Huyện có 01 trung tâm giáo dục thường xuyên, phân bố tại xã Long Hiệp. Đến năm 2010 trung tâm có 09 lớp học, trong đó có 06 lớp đào tạo nghề cho người lao động.

Nhìn chung thời gian qua ngành giáo dục đào tạo huyện Minh Long vẫn phát triển đều đặn cả về quy mô và chất lượng với nhiều hình thức đào tạo khác nhau như giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá, giáo dục thường xuyên...Được nhà nước đầu tư các chương trình cho ngành giáo dục, Huyện đã có trường nội trú dân tộc, thu nhận khá nhiều học sinh là con em các dân tộc ít người.

Về chất lượng dạy và học: Chất lượng dạy và học được nâng lên một bước, số học sinh các cấp được duy trì ổn định qua các năm, trong đó số học sinh dân tộc nội trú duy trì ổn định 170 -180 em mỗi năm. Số học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp huyện có 236 em, trong đó học sinh dân tộc 3 em (chiếm tỷ lệ 1,27%), học sinh giỏi cấp tỉnh 21 em, trong đó học sinh dân tộc 1 em (chiếm tỷ lệ 4,76%). Tỷ lệ học sinh các cấp tốt nghiệp đạt khá. Tuy nhiên tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng vẫn còn xảy ra. 

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học: Huyện đã hoàn thành đề án về xóa phòng học tranh tre nứa lá và kiên cố hoá trường học, lớp học. Bình quân 1000 dân có 345 người trong độ tuổi đi học ở các cấp học. Tuy nhiên so với yêu cầu còn một số mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của chương trình đổi mới như: các phòng học bộ môn, trang thiết bị giảng dạy phòng học bộ môn còn thiếu, số trường đạt chuẩn quốc gia còn ít, đội ngũ cán bộ giáo viên đạt chuẩn chưa cao, cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ, tình trạng dạy chéo ban vẫn còn. Công tác xã hội hoá giáo dục đào tạo, đa dạng hoá các hình thức giáo dục đào tạo còn hạn chế.

- Tuyến huyện

Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện với qui mô 50 giường bệnh, 5 trạm y tế/5 xã (10 giường bệnh) và có 1 đội vệ sinh phòng dịch.

- Tuyến xã:

Tuy nhiên, bệnh viện đa khoa Huyện xây dựng đã lâu, đến nay vẫn còn thiếu một số khoa và một số khu chức năng; phòng khám, chữa bệnh còn chật hẹp; chưa có trang thiết bị phục vụ cho khám chữa chuyên khoa và phương tiện giao thông sẵn sàng phục vụ phòng chống dịch bệnh. Thiếu trang thiết bị xử lý vệ sinh môi trường nhất là xử lý rác thải y tế và nhiều thiết bị khác.

Tình hình chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Nhìn chung những năm qua số người ốm đau đã kịp thời đến các cơ sở y tế, hàng năm có khoảng 25-30 nghìn lượt người đến các cơ sở y tế để khám và chữa bệnh, điều trị nội trú có khoảng 2.000 - 2.500 người.

Các chương trình y tế quốc gia được triển khai đảm bảo đúng tiến độ. Huyện đã duy trì và thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh như chương trình phòng chống lao, sốt rét, bướu cổ, bại liệt... Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em trong độ tuổi và phụ nữ có thai được chú trọng, tăng cường giám sát, kiểm tra thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nhờ đó đã đẩy lùi được các bệnh truyền nhiễm.

Tuy nhiên do địa hình rộng, giao thông đi lại khó khăn, điều kiện tự nhiên đã tạo thuận lợi cho các loại dịch bệnh phát triển như sốt rét, bướu cổ, lao, bệnh đường ruột… vì vậy tỷ lệ người mắc bệnh còn cao. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi vẫn ở mức cao là 39,2%. Việc cấp thẻ khám chữa bệnh cho người nghèo còn chậm.

Văn hoá

Các hoạt động văn hoá luôn được quan tâm đúng mức, Huyện thường xuyên tổ chức các phong trào văn hoá thể thao, tuyên truyền trực quan phục vụ các ngày lễ lớn của đất nước.

Hiện nay, huyện Minh Long có 5 nhà văn hoá cấp xã/ 5 xã, xây dựng 18 nhà văn hoá phục vụ sinh hoạt cho các điểm dân cư. Nhìn chung trang thiết bị các nhà văn hoá còn đơn sơ, chỉ 20% là đáp ứng yêu cầu đủ bàn ghế, loa máy, phông màn và diện tích khuôn viên. Khoảng 50% số nhà văn hoá hoạt động thường xuyên, có nội dung thiết thực còn lại hoạt động không đều và hạn chế về nội dung sinh hoạt. Hiện nay mỗi xã đều có điểm bưu điện văn hoá xã.  Ngoài ra Huyện còn xây dựng một khu vui chơi  ở khu vực trung tâm huyện lỵ để phục vụ vui chơi cho trẻ em. 

Các hoạt động văn hoá thể thao chỉ tập trung ở các điểm dân cư trung tâm huyện và trung tâm các xã do địa hình rộng, dân cư ở phân tán. Các điểm dân cư ở vùng sâu vùng xa thì đời sống văn hoá vẫn còn rất thiếu thốn và khó khăn.

Phát thanh- truyền thanh, truyền hình

Huyện có 1 Đài phát thanh và truyền hình ở xã Long Môn, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ. Hàng ngày Đài truyền thanh huyện phát sóng 30 phút, phủ sóng hết các xã, thị trấn, chủ yếu tập trung tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị địa phương.

Hiện tại huyện đã tiếp nhận và lắp đặt 13 trạm thu tín hiệu vệ tinh cho 13 điểm dân cư vùng lõm của huyện để phục vụ nhân dân xem truyền hình, góp phần đưa tỷ lệ phủ sóng truyền hình tăng lên đáng kể. Năm 2009, tỷ lệ hộ được xem truyền hình đạt 98%.

Thể dục thể thao

Phong trào thể dục thể thao được chú trọng và bước đầu phát triển rộng rãi,  thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, góp phần tăng cường sức khoẻ trong quần chúng nhân dân.

Hàng năm huyện đã tổ chức thi đấu thể thao theo các bộ môn của tỉnh (4 - 7 môn) như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông... và thường xuyên tham gia các giải thi đấu của tỉnh như giải thể thao miền núi - hải đảo và đạt kết quả khá. 

Hiện tại huyện 1 sân bóng đá kích thước 70 x 90m còn đơn sơ. Nhiều trường THCS chưa có đầy đủ thiết bị chuẩn phục vụ cho dạy TDTT, một số trường Tiểu học và trường THCS chưa có sân riêng phục vụ tập luyện TDTT.

Đến nay Huyện đã cơ bản đã xoá được hộ đói kinh niên song tỷ lệ hộ nghèo của Huyện còn cao. Năm 2001, toàn huyện có 1.229 hộ nghèo, chiếm 51,4%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới năm 2006 là 73,16%, năm 2009 có 975 hộ nghèo chiếm 30,25%, dự kiến năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn 24,58%. 

Công tác xoá đói giảm nghèo được tăng cường. Một số mô hình phát triển kinh tế được triển khai thực hiện đem lại hiệu quả như: Mô hình trồng cỏ nuôi bò, nuôi cá nước ngọt, làm cây rơm để làm thức ăn chăn nuôi trâu bò, phát triển trồng rừng... khắc phục dần tình trạng du canh du cư, hạn chế nạn phá rừng làm nương rẫy.

Thực hiện chính sách xã hội:

Huyện đã thực hiện đầy đủ và kịp thời các chế độ cho người có công với cách mạng như quy tụ mộ liệt sỹ, trùng tu sửa chữa nghĩa trang liệt sỹ, xây nhà ở tặng các hộ nghèo, gia đình chính sách nghèo. Ngoài ra, tỉnh và huyện có những chính sách hỗ trợ những hộ nghèo và cận nghèo bằng cách tổ chức dạy nghề, nâng cao kiến thức về khoa học - kỹ thuật, cho vay vốn, tạo việc làm giúp các hộ gia đình tự vươn lên thoát nghèo và không để tái nghèo.

Mạng lưới kết cấu hạ tầng

Giao thông

Đường bộ

a) Đường tỉnh:

Đi qua huyện Minh Long có 3 tuyến đường tỉnh, bao gồm:

- Đường tỉnh 624 - (Quảng Ngãi - Minh Long, theo tên cũ là đường tỉnh 627): đoạn đi qua địa bàn huyện Minh Long dài 10 km. Đường đạt tiêu chuẩn cấp V miền núi, nền đường rộng 6 mét, mặt 3,5 mét rải nhựa. Đây là tuyến đường huyết mạch chính nối Minh Long với trung tâm tỉnh Quảng Ngãi và các địa phương khác.

- Đường tỉnh 625 - (Quốc lộ 24 - Minh Long - Sơn Kỳ): Điểm đầu giao với Quốc lộ 24 tại km23 +800 (đèo Lâm) thuộc xã Ba Động, huyện Ba Tơ; điểm cuối giao vào đường tỉnh 626 tại km22 +500 thuộc xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà. Đoạn đi qua huyện Minh Long dài 28,66 km; hiện nay có mặt đường cấp phối sỏi đỏ. 

b) Đường huyện:

Gồm 6 tuyến, tổng chiều dài 54 km:

- Đường huyện 61 (Long Mai - Long Sơn): Điểm đầu giao với ĐT624 tại xã Long Mai; điểm cuối: nghĩa trang liệt sĩ xã Hành Nhân, huyện Nghĩa Hành, tổng chiều dài 12,0km

- Đường huyện 61B (Phú Lâm – Hố Cả): Điểm đầu giao với đường tỉnh ĐT624 tại thôn Phú Lâm xã Hành Thiện huyện Nghĩa Hành; điểm cuối Hố Cả, tổng chiều dài 3,5km 

- Đường huyện 61C (Long Mai – long Hiệp- Thanh An): Điểm đầu giao với đường tỉnh 624 tại trạm kiểm lâm, điểm cuối trạm biến áp Công Loan, tổng chiều dài 8,0km.

- Đường huyện 62 (Thanh An - Thác Trắng): Điểm đầu giao với đường tỉnh ĐT625 thuộc xã Thanh An, điểm cuối tại khu vực Thác Trắng, tổng chiều dài 5,0km. 

- Đường huyện 62B (Long Môn- Làng Ren): Điểm đầu giao với đường tỉnh 625 thuộc xã Long Môn, điểm cuối: Thôn Ruộng Cua, tổng chiều dài 11,0 km

- Đường huyện 63 (Yên Ngựa – Gò Tranh): Điểm đầu giao với đường tỉnh 628 thuộc xã Long Sơn (ngã 3 Yên Ngựa), điểm cuối thôn Gò Tranh, tổng chiều dài: 15,0km. 

Các tuyến đường trung tâm huyện lỵ có tổng chiều dài 07 km, mặt đường rải nhựa, các tuyến đường nối huyện Minh Long - Ba Tơ cũng đã và đang nhựa hoá.

c). Đường liên xã, thôn, xóm: có tổng chiều dài 97 km.

Hiện nay có 03 xã đã có đường nhựa hoặc bê tông đến trung tâm xã, Huyện đã xây dựng các tuyến đường liên xã Long Mai - Thanh An, Long Mai - Long Hiệp - Thanh An, nâng cấp tuyến đường Long Mai - Long Sơn.

Đến nay đã có 39 thôn có đường ô tô đến được trung tâm của thôn (xây dựng được 12,4 km đường nhựa). Tuy nhiên do có nhiều đoạn vượt sông Phước Giang và các suối lớn nên thường bị tắc nghẽn vào mùa mưa lũ, mặt đường rộng từ 4-6 m, vẫn còn một số đường là đường đất, chất lượng còn thấp, do mở đường men theo sườn núi nên rất dễ bị xói lở khi gặp mưa lũ kéo dài. 

d) Đường trong trung tâm Huyện lỵ (thuộc xã Long Hiệp).

e) Cầu, bến xe 

Trên địa bàn Huyện đã hoàn thành xây dựng kiên cố 3 cầu: Cầu Thanh An, cầu Long Mai, cầu Long Sơn. Các tuyến đường đê và các tuyến đường quan trọng trong phòng chống lũ, bão đã được đầu tư làm kè đá hộ bờ chống sạt lở.

Đường thuỷ

Nhìn chung, giao thông của huyện còn một số tồn tại như sau:

- Các tuyến đường do địa phương quản lý hiện tại nhiều đoạn đã xuống cấp, kích thước hình học chưa đảm bảo tiêu chuẩn, phần lớn chỉ đạt tiêu chuẩn cấp VI, V, đường giao thông nông thôn với 1 làn xe. Còn nhiều đoạn đường vẫn chưa được rải đá hoặc láng nhựa, hoặc bê tông xi măng.

- Các tuyến đường vào các khu tham quan du lịch chưa thật sự được quan tâm, độ rộng đường vẫn còn nhỏ hẹp.

Mạng lưới cấp điện

- Các nguồn cung cấp điện

Đến nay Huyện đã đưa điện lưới quốc gia đến được 5 xã, chiếm tỷ lệ 100%, số hộ sử dụng điện chiếm 80%.

Hiện nay lưới điện trung thế huyện Minh Long đang vận hành ở cấp điện áp 15 KV và được cấp điện từ xuất tuyến 873 TG Quảng Phú; về huyện Minh Long có 2 trạm hạ thế 15/0,4KV (01 trạm ở xã Long Hiệp cung cấp cho xã Long Hiệp và các khu vực lân cận như Long Mai, Thanh An; 01 trạm ở xã Long Môn). Riêng địa bàn xã Long Sơn, lưới điện trung thế được vận hành ở cấp điện áp 22 KV, có 1 trạm hạ thế 22/0,4 KV ở trung tâm xã Long Sơn. Trung tâm huyện lỵ Minh Long có đường dây 15KV và trạm biến áp 320KVA cung cấp cho toàn bộ trung tâm Huyện, các trục chính của trung tâm Huyện lỵ đã có hệ thống điện chiếu sáng.

Minh Long có bưu điện trung tâm Huyện với tổng đài điện tử trên 50.000 số, tất cả các xã trong huyện đã có hệ thống bưu điện. Toàn huyện phát triển được 1.031 máy điện thoại, bình quân 6,8 máy/100 dân. 

Được sự hỗ trợ của Đài phát thanh - truyền hình Quảng Ngãi, Minh Long đã chính thức đưa tín hiệu truyền hình lên huyện miền núi bằng đường cáp quang với tốc độ đường truyền 2Mb/s, mỗi ngày 3 giờ gồm chương trình thời sự VTV, Đài phát thanh - truyền hình Quảng Ngãi, chương trình truyền hình tiếng dân tộc Hre'''', Cor.

Hệ thống thuỷ lợi

Trước đây, các công trình thuỷ lợi của huyện chủ yếu là tưới tràn, công trình điều phối, phân phối nước không có hoặc điều hành bằng thủ công, hệ thống kênh mương bằng đất còn nhiều nên tổn thất nước lớn, năng lực tưới nhỏ, hiệu quả tưới thấp, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất, nhất là khi tình trạng hạn hán thường xuyên xảy ra và kéo dài.

Hiện nay, công tác thuỷ lợi đã được quan tâm thoả đáng và phát triển mạnh. Đến năm 2009, toàn huyện đã xây dựng xong 20 công trình thuỷ lợi kiên cố. Đập bồi có diện tích tưới từ 3 ha trở lên có 27 cái, bờ cừ đập tạm có diện tích tưới nhỏ hơn 3 ha là 70 cái, xây dựng mới 7 đập dâng. Trong đó:

- Xã Long Mai có 4 công trình (đập Nước Ren, đập Nước Loan, đập Hóc Dấu, đập Hóc Truối);

- Xã Long Hiệp có 6 công trình (đập Suối Lớn, đập Hà Liệt, đập Lịch Sơn, đập suối Reo, đập Nước Da, đập Nước Ren);

- Xã Thanh An có 06 công trình (đập Nước Nhiêu, đập Gò Nhung, đập rọ đá Làng Hinh, đập Phiên Chá, đập làng Vang, hồ Đồng Cần);

- Xã Long Môn có 1 công trình (đập Nước Cua);

- Xã Long Sơn có 3 công trình (đập Ruộng Thủ, đập Xà Hoen Hạ, đập Làng Điều)

Huyện đã triển khai xây dựng công trình hồ chứa nước và đập Biểu Qua có khả năng tưới được trên 100 ha lúa nước, chuẩn bị đưa vào sử dụng.

Hàng năm, huyện đã kiểm tra các công trình thuỷ lợi và khắc phục các công trình hư hỏng, vận động nhân dân gia cố đập tạm, đập bồi, tham gia các chương trình kiên cố hoá kênh mương. Đến nay có khoảng 99% diện tích lúa nước được tưới bằng các công trình thuỷ lợi, trong đó 66,7% diện tích được tưới bằng các công trình thuỷ lợi kiên cố.

Tuy nhiên, ngoài các đập kiên cố đã được đầu tư, hệ thống công trình thuỷ lợi vẫn còn chưa được duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp, các tuyến kênh mương nội đồng hiện vẫn là kênh mương đất, chưa được kiên cố hoá.

Do đặc điểm của Minh Long có địa hình phân cắt mạnh, dân cư sống thưa thớt...gây khó khăn cho việc cung cấp nước sạch bằng hệ thống cấp nước tập trung.

Năm 2009, huyện Minh Long vẫn chưa có nước máy mà vẫn phải dùng nước giếng đào, nước giếng khoan và bể, lu chứa nước mưa của hộ gia đình, trong đó chủ yếu là giếng đào, tỷ lệ giếng đào đất vẫn còn cao. Theo thống kê, trên địa bàn Huyện Minh Long có 45 giếng khoan và 611 giếng đào. Theo đánh giá của ngành cấp nước, chỉ có khoảng 50-60% số lượng lu, bể có chất lượng nước hợp vệ sinh, các giếng khoan có chất lượng nước cao hơn cả (khoảng 90% hợp vệ sinh). Giếng nước chưa đáp ứng đầy đủ nên những nơi khan hiếm nguồn nước ngầm và gần sông suối người dân vẫn phải sử dụng nước sông suối chưa qua xử lý để ăn uống và sinh hoạt hàng ngày. Nước sông suối tự nhiên hiện nay đáp ứng cho gần 25% số hộ toàn huyện. 

Bằng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, từ năm 2001 đến nay,  Huyện đã đầu tư xây dựng được 5 hệ thống nước tự chảy có nguồn nước là các mạch lộ chảy ra từ khe núi ở một số khu dân cư như thôn Yên Ngựa, Mai Lãnh Hạ, hệ thống Cà Neo (xã Long Sơn), hệ thống Hà Bôi (xã Long Hiệp), đáp ứng được nhu cầu dùng nước cho khoảng 65% dân số. Phần lớn các công trình cấp nước sinh hoạt đã đem lại hiệu quả xã hội cao. Huyện còn kết hợp với mở rộng xây dựng giếng đào ở một số khu dân cư và phối hợp với tỉnh xây dựng hệ thống cấp nước sạch tập trung bơm dẫn cho trung tâm Huyện lỵ dẫn nước từ thác Trắng về, khi đó sẽ hạn chế đáng kể việc dùng nguồn nước sông suối chưa qua xử lý để ăn uống, đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước sạch của nhân dân. Tuy nhiên, theo số liệu thiết kế thì áp lực và nguồn nước dẫn từ thác Trắng về vẫn không đủ để cung cấp cho trung tâm Huyện lỵ.

Thoát nước và vệ sinh môi trường

Trên địa bàn huyện Minh Long chưa có hệ thống thoát nước, toàn bộ hệ thống nước mặt chảy tràn tự nhiên theo độ dốc của địa hình chảy ra các sông suối. Nước thải tự thấm trong các bể tự hoại, các bể tự hoại chưa có hệ thống đấu nối vào mạng lưới thoát nước chung. Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường chưa được chú trọng.

Môi trường khu dân cư nông thôn đã được cải thiện đáng kể, nhà ở chủ yếu là nhà sàn, tỷ lệ nhà sàn lợp ngói chiếm trên 60%, tỷ lệ công trình hố xí hợp vệ sinh đã tăng từ 19,8% năm 2001 lên 65% năm 2007. Tỷ lệ chuồng trại hợp vệ sinh đã tăng từ 25% năm 2001 lên 40% năm 2007. Tuy nhiên, tỷ lệ chuồng trại hợp vệ sinh còn thấp, chăn nuôi gia súc vẫn còn hiện tượng thả rông, phần lớn chuồng trại vẫn làm tạm bợ bằng cây và mái lợp lá làm cạnh nhà, phân được gom cạnh chuồng để bón ruộng hoặc xói rửa tù đọng không được khai thông (đến nay đã có nhiều hộ gia đình đã áp dụng mô hình Biogas). 

Về rác thải trong các khu dân cư nông thôn đến nay chủ yếu là các hộ dân tự đem chôn lấp và làm phân bón trong vườn. Do đó tình trạng ô nhiễm môi trường luôn là nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ nhân dân.

Hiện trạng mạng lưới đô thị và các điểm dân cư nông thôn

Hiện trạng phát triển thị tứ 

Huyện Minh Long có 5 đơn vị hành chính cấp xã, chưa có thị trấn.

Quy hoạch xây dựng trung tâm Huyện lỵ Minh Long đã được lập năm 1999 với quy mô 50 ha. Trung tâm huyện lỵ có vai trò là trung tâm hành chính, chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế của Huyện, là đầu mối giao thông quan trọng giữa các xã trong huyện và giữa Huyện Minh Long với các huyện Nghĩa Hành, Ba Tơ; đồng thời là hạt nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các khu vực khác trên địa bàn Huyện. Hiện nay Huyện đã thực hiện điều chỉnh và mở rộng quy hoạch trung tâm huyện lỵ Minh Long lên quy mô 70 ha cho phù hợp với tình hình phát triển thực tế thông qua dự án mở rộng khu dân cư và các tuyến đường khu vực phía Bắc trung tâm Huyện lỵ, trong đó khu dân cư có diện tích 9.000m2. 

Huyện có hai trung tâm cụm xã ở  Long Môn và Long Sơn đã được xây dựng và đang từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng. Các trung tâm cụm xã đã tạo ra động lực phát triển kinh tế của từng vùng, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong huyện.

Hiện trạng phát triển các điểm dân cư nông thôn 

Diện tích đất khu dân cư nông thôn toàn huyện Minh Long là 301,96 ha, chiếm 1,32% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó đất ở nông thôn 157,49 ha, bình quân 1 hộ có 380 m2 đất ở.

Dân cư sinh sống tương đối tập trung thành các làng, bản, thôn (các điểm dân cư nông thôn). Song các điểm dân cư lại phân bố rải rác dọc theo triền sông suối và các thung lũng do bị chia cắt về địa hình. Toàn huyện có 43 thôn trên địa bàn của 5 xã, bình quân một thôn có 75 hộ. Trong đó có 1 thôn (thôn Cà Xen) của xã Long Môn nằm xâm canh trong địa giới hành chính của huyện Sơn Hà, có 2 điểm dân cư nằm cách xa đường trục giao thông nên điều kiện sinh hoạt rất khó khăn, bao gồm: điểm dân cư thôn Làng Ren của xã Long Môn nằm cách xa trung tâm xã khoảng 8 km, điểm dân cư gò Tranh của xã Long Sơn nằm cách trung tâm xã khoảng 14 km.

An ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Một bộ phận không nhỏ cán bộ và đồng bào dân tộc còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, có lúc, có nơi còn quan liêu, xa dân, chưa nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị về công tác dân tộc ở cơ sở còn nhiều mặt hạn chế về trình độ năng lực và khả năng tổ chức thực hiện nên hoạt động còn nhiều hạn chế. Sự kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh chưa thật sự đồng bộ và chặt chẽ, công tác sẵn sàng chiến đấu một số địa phương thực hiện chưa nghiêm.

Tuy nhiên, nhờ nhận thức về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước sâu sắc và toàn diện, kết hợp với sự phối hợp tổ chức tốt công tác vận động quần chúng, tuyên truyền giải thích nên an ninh chính trị được giữ vững, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đoàn kết dân tộc được củng cố. 

Công tác an ninh - quốc phòng của huyện được chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện. Nhận thức và tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, nhân dân ngày càng được nâng cao. Tình hình an ninh chính trị và trật tự ATXH cơ bản ổn định.

Huyện đã tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ. Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc thường xuyên được phát động, xây dựng lực lượng nòng cốt, đấu tranh phòng chống, xử lý các loại tội phạm, không để xảy ra các điểm nóng. Hàng năm, chỉ tiêu tuyển quân của huyện đạt 100%. 

Công tác giáo dục pháp luật và tuyên truyền về luật pháp được tăng cường với nhiều hình thức, nội dung phong phú, tạo chuyển biến về nhận thức và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho công dân. Tình hình an ninh nông thôn ổn định. Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông được quan tâm thực hiện đạt kết quả khá tốt. Tuy nhiên, việc khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra.

 

 

Bản quyền © 2012 Trang thông tin điện tử UBND Huyện Minh Long

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Văn Bảy - Phó Chủ tịch UBND Huyện Minh Long

Tel: 0255 3866235 - Fax: 055 3866320

Email: banbientapvpub@gmail.com.vn